Phân tích cạnh tranh trong ngành chế tạo máy phát điện

Phân tích cạnh tranh trong ngành chế tạo máy phát điện

18-06-2012 - 07:44 AM Doanh nghiệp
Phân tích cạnh tranh trong ngành chế tạo máy phát điện

Máy phát điện được xem là một sản phẩm thay thế cho điện mạng lưới quốc gia. Khi điện mạng lưới ổn định và cung ứng đầy đủ, nhu cầu sử dụng máy phát điện sẽ giảm xuống và ngược lại.

DZM: Công ty Cổ phần Chế tạo máy Dzĩ An

Giá hiện tại
4.6
Thay đổi
  0.0 (0.0%)
Cập nhật lúc 11:00 Thứ 3, 02/07/2019
Xem hồ sơ doanh nghiệp 
Lịch sử phát triển của ngành
So với nhiều phân ngành sản xuất thiết bị điện khác như sản xuất máy biến áp vốn có lịch sử lâu năm, ngành sản xuất lắp ráp máy phát điện là một ngành còn khá non trẻ tại Việt Nam và hiện đang tăng trưởng khả quan. Nếu như trước năm 2000, mặt hàng máy phát điện mang thương hiệu Việt Nam hầu như không được biết tới thì đến nay mặt hàng này đã khẳng định được tên tuổi bởi chất lượng, giá cả và các dịch vụ đã tạo được uy tín trong lòng khách hàng. Hiện tại, máy phát điện Việt Nam sản xuất chiếm khoảng 25% tổng thị trường máy phát điện còn lại thuộc về máy phát điện nhập khẩu. Thị phần của máy phát điện thương hiệu Việt Nam đang tăng trưởng nhanh và liên tục mở rộng qua từng năm, ước tính đến năm 2020 sẽ đạt mức 50%.
Thị trường này chủ yếu được thống trị bởi các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và các thương hiệu ngoại nhập. Các công ty mạnh trong ngành mang thương hiệu Việt phần lớn là công ty tư nhân thay vì doanh nghiệp nhà nước. Tổng công ty Thiết bị điện Việt Nam, nhà sản xuất các thiết bị điện hàng đầu Việt Nam vẫn chưa quan tâm nhiều đến dòng sản phẩm này và công ty thành viên là Công ty Điện máy Việt Nam – Hunggari bắt đầu sản xuất mặt hàng này từ năm 2008 chỉ với tư cách là một mặt hàng đa dạng hoá mà không phải là mặt hàng chủ lực.
Phương thức gia nhập ngành
Phương thức gia nhập thị trường của các doanh nghiệp trong nước là khá tương đồng nhau. Khởi đầu với tư cách là nhà phân phối các máy phát điện nhập khẩu, sau đó, học hỏi kinh nghiệm và tiến tới tích hợp ngược sang mảng sản xuất và cạnh tranh trở lại với các thương hiệu nhập khẩu. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm sản xuất trong nước vẫn chủ yếu dưới dạng lắp ráp, những linh kiện chính của máy phát điện đều phải nhập khẩu.
Bảng: Thời điểm gia nhập ngành của các Công ty
STT
Tên Công ty
Gia nhập kinh doanh thương mại
Gia nhập sản xuất lắp ráp
Thương hiệu sản phẩm
1
CTCP Chế tạo máy điện Việt Nam Hungari
-
2008
Vihem
2
CTCP Hoà Bình
2001
2008
KIBII
3
CTCP Chế tạo máy Dzĩ An
2000
2000
Vietgen
4
CTCP Hữu Toàn
1998
1998
Hữu Toàn
5
Công ty TNHH Cát Lâm
1998
2003
CaPo
Sản phẩm máy phát điện
Máy phát điện được xem là một sản phẩm thay thế cho điện mạng lưới quốc gia. Khi điện mạng lưới ổn định và cung ứng đầy đủ, nhu cầu sử dụng máy phát điện sẽ giảm xuống và ngược lại, nếu thiếu hụt điện năng và phụ tải tăng cao thì nhu cầu máy phát điện sẽ tăng cao. Hơn nữa, đối với các cơ sở kinh doanh lớn, nếu sự cố mất điện đột xuất sẽ gây tổn thất rất lớn, do đó, việc đầu tư máy phát điện còn nhằm mục đích dự phòng rủi ro sự cố điện. Việc tiêu thụ máy phát điện có tính chất mùa vụ, sản phẩm đặc biệt tiêu thụ mạnh vào mùa khô khi thiếu hụt điện năng và phụ tải tăng cao.
Máy phát điện là hàng tiêu dùng lâu bền có giá trị tương đối lớn, do đó dịch vụ sau bán hàng như bảo hành và phụ tùng thay thế đóng vài trò quan trọng trong cạnh tranh. Do khách hàng sử dụng máy phát điện không thường xuyên, vì vậy, các công ty còn bán kèm dịch vụ cho thuê máy phát điện. Do các linh kiện quan trọng của máy phát điện được nhập khẩu và một tỷ trọng lớn sản phẩm còn nhập khẩu nguyên chiếc nên giá cả sản phẩm trong nước chịu ảnh hưởng lớn của biến động tỷ giá hối đoái. Những đặc tính quan trọng của sản phẩm mà khách hàng quan tâm đó là: (1) Mức độ tiết kiệm nhiên liệu, (2) Giá cả sản phẩm, (3) Thời gian bảo hành, (4) Độ bền sản phẩm, (5) Độ ổn định của nguồn điện. Nhiên liệu để chạy máy phát điện có thể là dầu diesel, xăng, gas. Những nhiên liệu này là sản phẩm bổ sung của máy phát điện, do đó, việc giá các nhiên liệu này tăng mạnh cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến tiêu thụ máy phát điện.
Theo mục đích sử dụng, máy phát điện có hai phân khúc là máy phát điện dân dụng và máy phát điện công nghiệp. Theo thu nhập của khách hàng, có ba phân khúc thị trường cơ bản: Thị trường thu nhập thấp, trung bình và thị trường cao cấp. Nhiều công ty của Việt Nam đang thực hiện phát triển thương hiệu riêng nhưng vẫn trên cơ sở lắp ráp, động cơ và đầu phát hoàn toàn phải nhập ngoại. Việc linh kiện nhập ngoại chất lượng cao cũng là một trong những nhân tố góp phần giúp các công ty trong nướckhác biệt hoá cho sản phẩm. Hiện nay, các sản phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản (như của Honda, Yamaha, Kubota) chủ yếu đáp ứng phân khúc thị trường cao cấp và bán với giá cao, trong khi đó, các sản phẩm của Việt Nam đáp ứng phân khúc có thu nhập trung bình với giá cả phải chăng, trong khi đó, sản phẩm nhập từ Trung Quốc hoặc hàng nhái giá rẻ đáp ứng phân khúc thu nhập thấp.
Chi phí vận chuyển thấp giúp các Công ty có thể áp dụng chiến lược sản xuất tập trung và phân phối trên thị trường toàn cầu. Do đó, bên cạnh việc phát triển thị trường trong nước, các công ty có uy tín có xu hướng xuất khẩu. Một số công ty trong ngành như Công ty Chế tạo máy Dzĩ An còn thực hiện mở chi nhánh ở nước ngoài nhằm tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Đối với thị trường trong nước, các công ty áp dụng phổ biến kênh phân phối thông qua đại lý.
Mối tương quan giữa các đối thủ cạnh tranh
Bảng: Danh mục sản phẩm của các công ty trong ngành
Công ty
Máy phát dân dụng
Máy phát công nghiệp
Máy bơm
Máy cắt cỏ
Máy phun thuốc
Máy nén khí
Dịch vụ sửa chữa
CTCP Hoà Bình
x
x
x
x
x


CTCP Hữu Toàn
x
x
x
x
x
x
x
CTCP Dzĩ An
x
x





Công ty Cát Lâm
x
x





Bảng trên mô tả mối tương quan giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Mặc dù sản phẩm chủ lực của các công ty là máy phát điện, tuy nhiên, danh mục sản phẩm tổng thể của các công ty này khá khác nhau. Danh mục sản phẩm của Công ty Dzĩ An và Cát Lâm chủ yếu là tập trung hoá vào máy phát điện, bao gồm máy phát điện dân dụng và máy phát điện công nghiệp, trong khi đó, Công ty Hoà Bình và Công ty Hữu Toàn lại sở hữu một danh mục đa dạng hoá sản phẩm máy điện khá rộng bao gồm: Máy phát điện dân dụng, máy phát điện công nghiệp, máy bơm, máy cắt cỏ, máy phun thuốc, riêng Công ty Hữu Toàn còn cung cấp thêm sản phẩm máy nén khí và dịch vụ sửa chữa. Như vậy, CTCP Hoà Bình và CTCP Hữu Toàn với danh mục sản phẩm rộng có thể thực hiện bán kèm sản phẩm cho các đại lý phân phối, góp phần tăng doanh thu trên mỗi đại lý phân phối và đem lại lợi thế cạnh tranh đáng kể so với Công ty Dzĩ An và Công ty Cát Lâm.
Mối tương quan này chỉ ra những hàm ý cạnh tranh quan trọng đối với Công ty Dzĩ An và Công ty Cát Lâm đó là, để cạnh tranh thành công với hai đối thủ mạnh có dòng sản phẩm rộng chỉ còn hai phương thức: (1) vươn lên chiếm thị phần lớn trong ngành máy phát điện hoặc (2) phải đa dạng hoá dòng sản phẩm kịp với hai đối thủ dẫn đầu trên.
Tiềm lực của các Công ty trong ngành
Bảng: Tình hình tài chính các công ty năm 2011
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT
Công ty
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần
Lợi nhuận sau thuế
1
CTCP Hữu Toàn
575
228
535
20
2
CTCP Hoà Bình
419
170
829
45
3
CTCP Chế tạo máy Dzĩ An
248
94
339
11,2
Nhờ dòng sản phẩm rộng, doanh thu thuần và lợi nhuận của Công ty Hữu Toàn và Hoà Bình lớn hơn đáng kể so với Công ty Dzĩ An. Công ty Hoà Bình do mảng kinh doanh thương mại các sản phẩm máy phát điện vẫn chiếm tỷ trọng lớn nên có doanh số bán hàng lớn hơn so với Công ty Hữu Toàn (chỉ tập trung chủ yếu vào sản xuất). Xét về tiềm lực tài chính, Công ty Hữu Toàn và Hoà Bình cũng có quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu lớn, trong khi đó, Công ty Dzĩ An có quy mô nhỏ hơn khá nhiều. Lợi thế cạnh tranh của Công ty Hữu Toàn và Công ty Hoà Bình còn ở chỗ họ phát triển được hệ thống đại lý phân phối rộng khắp trên toàn quốc.
Kết quả kinh doanh của các công ty trong ngành
Bảng: Kết quả kinh doanh của các công ty trong ngành
Đơn vị tính: tỷ đồng
ST
Tên Công ty
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Biến động 2011/2010
A
Doanh thu thuần




1
CTCP Hữu Toàn
441
711
535
-25%
2
CTCP Hoà Bình
305
691
829
20%
3
CTCP Chế tạo máy Dzĩ An
181
198
339
71%
B
Lợi nhuận sau thuế




1
CTCP Hữu Toàn
62
99
20
-80%
2
CTCP Hoà Bình
24
52
45
-14%
3
CTCP Chế tạo máy Dzĩ An
18
5
11,2
124%
Năm 2011 chứng kiến sự mở rộng thị phần mạnh của Công ty Hoà Bình và Công ty Dzĩ An, trong khi đó, sự sụt giảm mạnh thị phần của Công ty Hữu Toàn. Doanh thu của Công ty Hoà Bình đã tăng trưởng 20% trong năm 2011, Công ty Dzĩ An tăng trưởng tới 71%, trong khi đó, Công ty Hữu Toàn giảm mạnh 25%. Đối với Công ty Hữu Toàn, cùng với sự sụt giảm doanh số bán hàng, lợi nhuận sau thuế sụt giảm rất mạnh 80%. Có thể coi đây là một bước thụt lùi đáng kể của Công ty cổ phần Hữu Toàn. Tại sao lại như vậy?
Theo chúng tôi, điều này xuất phát từ sự lựa chọn chiến lược chưa hợp lý của Công ty cổ phần Hữu Toàn. Trong quá trình phát triển, Công ty Hữu Toàn lựa chọn đa dạng hoá sang nhiều lĩnh vực kinh doanh không có liên quan gì đến ngành máy phát điện và đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn như: trồng cao su, kinh doanh trang trại, kinh doanh bất động sản. Trong điều kiện nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, những ngàn đa dạng hoá này đã hút một nguồn lực tài chính lớn khiến Công ty không thể đầu tư đúng mức cho ngành sản xuất máy phát điện và máy nông cụ. Bên cạnh đó, chi phí lãi vay tăng cao cũng đóng góp vào việc tỷ suất lợi nhuận của Công ty sụt giảm mạnh.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Bảng: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
ST
Tên Công ty
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
1
CTCP Hữu Toàn
33,9%
46,7%
8,8%
2
CTCP Hoà Bình
28,2%
37,7%
26,5%
3
CTCP Chế tạo máy Dzĩ An
29,0%
6,0%
11,9%

Bình quân ngành
31,5%
35,9%
15,5%
Bảng số liệu cho thấy, CTCP Hoà Bình quản lý kinh doanh và tài chính tốt, duy trì được tỷ suất lợi nhuận cao ổn định ngay cả trong bối cảnh kinh tế khó khăn năm 2011. Trong khi đó, Công ty Hữu Toàn chứng kiến một sự sụt giảm mạnh về hiệu quả kinh doanh khi tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu giảm từ mức 46,7% năm 2010 xuống mức rất thấp 8,8% năm 2011. Công ty Dzĩ An mặc dù tỷ suất lợi nhuận vốn chủ đã cải thiện từ mức 6% năm 2010 lên mức 11,9% năm 2011 nhưng vẫn chưa lấy lại được đỉnh cao về tỷ suất lợi nhuận năm 2009 là 29%.
Tuấn Dương
thanhhuong
Theo Trí thức trẻ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

THỊ TRƯỜNG TRANG THIẾT Y TẾ VIỆT NAM 2019